Áp lực nguồn vốn, nhiều ngân hàng đẩy mạnh phát hành giấy tờ có giá

Áp lực thanh khoản khiến nhiều ngân hàng tăng tốc phát hành giấy tờ có giá với lãi suất 8–10%/năm, đồng thời dòng vốn tín dụng tiếp tục chảy mạnh vào doanh nghiệp bất động sản.

Ảnh minh hoạ: AI tạo

Huy động chậm hơn cho vay, áp lực thanh khoản gia tăng

Nửa đầu năm 2026 chứng kiến sự lệch pha rõ nét giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và khả năng huy động vốn của hệ thống ngân hàng. Theo báo cáo cập nhật kết quả kinh doanh ngành ngân hàng quý II/2026 của TCBS Research, tín dụng toàn hệ thống tăng 9%, trong đó riêng quý II lượng vốn giải ngân đạt thêm 811.000 tỷ đồng, cao gấp 1,7 lần so với quý trước.

Ở chiều ngược lại, tiền gửi của khu vực dân cư chỉ tăng 5,5% kể từ đầu năm, đưa tổng quy mô huy động lên 13,4 triệu tỷ đồng. Chênh lệch 3,5 điểm % giữa tín dụng và huy động đang trở thành nguyên nhân chính tạo sức ép lên thanh khoản của nhiều ngân hàng.

Thực tế, có tới 20 trong số 26 ngân hàng được khảo sát ghi nhận tốc độ tăng tiền gửi thấp hơn tăng trưởng dư nợ. Mặc dù tiền gửi khách hàng vẫn là nguồn vốn quan trọng nhất, tỷ trọng của nguồn vốn này trong tổng nguồn vốn đã giảm từ 64,6% xuống còn 59,8% trong vòng 6 quý gần đây.

Bức tranh huy động phân hóa mạnh giữa các nhà băng

Diễn biến huy động vốn không đồng đều giữa các ngân hàng. HDBank dẫn đầu với mức tăng tiền gửi 20,2%, tiếp theo là VPBank với 16,7%. Trong khi đó, nhóm ngân hàng quốc doanh tăng trưởng khá khiêm tốn: VietinBank đạt 5,4%, Vietcombank 3,4% và BIDV 1,7%, dù vẫn sở hữu quy mô huy động lớn nhất thị trường.

Ở chiều giảm, ACB giảm 1,5%, Eximbank giảm 3,8%, SaigonBank giảm 4,3% và Bac A Bank giảm 5,4% về quy mô tiền gửi.

Không chỉ quy mô, chất lượng nguồn vốn cũng chịu áp lực khi tiền gửi không kỳ hạn (CASA) chưa phục hồi. Đến cuối quý II, tỷ lệ CASA toàn ngành duy trì ở mức 20,2%, thấp hơn mức 21,7% cuối năm 2025; có 22 ngân hàng ghi nhận chỉ số này sụt giảm. Techcombank, MB và Vietcombank vẫn nằm trong nhóm dẫn đầu, trong khi Bac A Bank, Nam A Bank, VietABank và Kienlongbank chỉ đạt tỷ lệ từ 3–6%.

Việc thiếu hụt nguồn vốn giá rẻ cũng khiến chi phí huy động của toàn ngành tăng gần 2 điểm phần trăm sau 6 tháng, lên mức cao nhất kể từ giữa năm 2023.

Giấy tờ có giá trở thành kênh bù đắp vốn

Để lấp khoảng trống thanh khoản, nhiều ngân hàng chuyển sang tăng mạnh phát hành giấy tờ có giá. Tính đến cuối quý II, dư nợ giấy tờ có giá của 26 ngân hàng niêm yết đạt 1,96 triệu tỷ đồng, tăng 16,7% so với đầu năm - cao gấp hơn ba lần tốc độ tăng tiền gửi dân cư. Kênh này hiện chiếm 9,8% tổng nguồn huy động của hệ thống.

Trong tổng mức tăng khoảng 280.000 tỷ đồng, phần lớn tập trung ở BIDV, ACB, VPBank và MB. Đáng chú ý, OCB, ACB và Techcombank đều có tỷ trọng giấy tờ có giá vượt 20% tổng huy động. Riêng BIDV nâng số dư phát hành lên 302.000 tỷ đồng sau khi tăng gần 34%, cao nhất hệ thống; trong khi Vietcombank vẫn duy trì tỷ trọng rất thấp, chỉ 1,7%, nhờ nguồn tiền gửi khách hàng và Kho bạc Nhà nước dồi dào.

Hoạt động phát hành trái phiếu ngân hàng cũng tăng tốc mạnh từ tháng 6. Riêng tháng 7, các ngân hàng phát hành 35,6 nghìn tỷ đồng trái phiếu, chiếm phần lớn trong tổng lượng 41 nghìn tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp của toàn thị trường.

Tuy nhiên, đây cũng là nguồn vốn có chi phí cao nhất. Lãi suất phát hành giấy tờ có giá dao động từ 8–10%/năm, cao hơn 3–5 điểm % so với chi phí vốn bình quân 4,8% của toàn ngành. Điều này tạo áp lực trực tiếp lên biên lãi thuần của những ngân hàng phụ thuộc nhiều vào kênh huy động này như OCB, ACB, Techcombank, MB và VPBank.

Theo dự báo, áp lực phát hành sẽ còn kéo dài trong nửa cuối năm khi các ngân hàng vừa phải đáp ứng nhu cầu vốn theo hạn mức tín dụng mới, vừa triển khai kế hoạch phát hành hơn 75.000 tỷ đồng trái phiếu cấp hai và xử lý khoảng 20.000 tỷ đồng trái phiếu đến hạn cần đảo nợ.

Dòng vốn tín dụng nghiêng mạnh về doanh nghiệp và bất động sản

Song song với bài toán huy động, cơ cấu tín dụng cũng có sự dịch chuyển đáng chú ý. NCB là ngân hàng tăng trưởng tín dụng mạnh nhất trong 6 tháng đầu năm với mức 30,7%. Theo sau là VPBank (23,2%), HDBank (21,8%), Techcombank (15,2%) và MB (13,2%). Khối ngân hàng quốc doanh duy trì mức tăng ổn định khoảng 5–5,5%.

Điểm nổi bật nhất là dòng vốn tiếp tục chảy mạnh vào lĩnh vực bất động sản. Dư nợ tín dụng kinh doanh bất động sản tăng 19,8% từ đầu năm, gần gấp đôi mức tăng 10,3% của tổng dư nợ toàn hệ thống. Bốn ngân hàng gồm SHB, BVBank, Techcombank và VPBank đang nắm hơn 754.000 tỷ đồng dư nợ bất động sản, tương đương 57% quy mô được thống kê.

Xét về tốc độ tăng trưởng, VIB dẫn đầu với 57,9%, tiếp đến là TPBank 54,5%, VPBank 42,6%, MB 38,2% và OCB 31,7%. Trong khi đó, VPBank và MB là hai ngân hàng có mức tăng tuyệt đối lớn nhất về dư nợ bất động sản.

Ở chiều ngược lại, tín dụng bán lẻ có dấu hiệu chững lại. Tại 19 ngân hàng được khảo sát, tỷ trọng cho vay cá nhân giảm từ 44,4% xuống còn 39,5% do nhu cầu mua nhà và tiêu dùng chưa phục hồi rõ rệt. Nhiều ngân hàng bán lẻ đã chuyển trọng tâm sang khách hàng doanh nghiệp: tại VIB, dư nợ cá nhân giảm 2% trong khi cho vay doanh nghiệp tăng 17,8%; còn tại ACB, tín dụng doanh nghiệp tăng 14,3%, cao hơn đáng kể so với mức 5,1% của mảng bán lẻ.

Sự dịch chuyển này cũng phản ánh ở cơ cấu kỳ hạn tín dụng khi tỷ trọng dư nợ dài hạn toàn ngành tăng lên 33,2%, còn dư nợ ngắn hạn giảm xuống 52,6%, phục vụ nhiều hơn cho các dự án hạ tầng và bất động sản có chu kỳ đầu tư dài.

Link nội dung: https://nhiepanhvacuocsong.net/ap-luc-nguon-von-nhieu-ngan-hang-day-manh-phat-hanh-giay-to-co-gia-a100188.html