Xung đột quân sự leo thang tại Trung Đông đang tạo ra những chấn động vượt ra ngoài phạm vi khu vực, tác động trực tiếp đến thương mại và chuỗi cung ứng toàn cầu. Với nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam, các doanh nghiệp xuất khẩu, đặc biệt trong lĩnh vực nông sản, dệt may, da giày… đang cảm nhận rõ sức ép từ chi phí logistics, năng lượng và tài chính gia tăng.
“Cú sốc” địa chính trị qua 3 kênh truyền dẫn
Chia sẻ với Người Đưa Tin, Phó Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, Tổng Giám đốc Vina T&T Group Nguyễn Đình Tùng cho biết, xung đột leo thang tại Trung Đông và khủng hoảng an ninh trên vùng biển khu vực này đang tác động trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu nông sản của doanh nghiệp.
Việc nhiều hãng tàu buộc phải chuyển hướng qua Mũi Hảo Vọng (châu Phi) thay vì đi qua kênh đào Suez đã kéo dài thời gian vận chuyển thêm 10–15 ngày đối với các tuyến sang châu Âu và Bờ Đông nước Mỹ.

Phó Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, Tổng Giám đốc Vina T&T Group Nguyễn Đình Tùng.
Theo ông Tùng, thời gian hành trình gia tăng không chỉ làm chậm tiến độ giao hàng mà còn khiến chi phí logistics đội lên đáng kể. Doanh nghiệp phải gánh thêm nhiều khoản phụ phí mới như phụ phí rủi ro chiến tranh (WRS) và phụ phí mùa cao điểm (PSS), trong đó một số loại được áp dụng sớm hơn dự kiến.
Bên cạnh đó, vòng quay tàu chậm dẫn đến tình trạng thiếu hụt cục bộ container rỗng tại các cảng xuất khẩu, gây ách tắc và gia tăng áp lực lưu kho, bãi.
Trước diễn biến này, doanh nghiệp chủ động minh bạch thông tin, cập nhật thường xuyên tình huống bất khả kháng tới đối tác nhập khẩu để đàm phán giãn tiến độ giao hàng, đồng thời chia sẻ chi phí phát sinh. Cách tiếp cận này nhằm duy trì uy tín và hạn chế rủi ro bị phạt hợp đồng.
Về dài hạn, ông Tùng cho biết doanh nghiệp sẽ cơ cấu lại danh mục sản phẩm theo hướng ưu tiên các mặt hàng có giá trị gia tăng cao, thời gian bảo quản dài, qua đó giảm thiểu tác động từ việc vận chuyển kéo dài và biến động logistics quốc tế.
Không chỉ dừng lại ở logistics, căng thẳng giữa United States, Israel và Iran được TS. Mạc Quốc Anh - Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Tp.Hà Nội (Hanoisme) nhìn nhận như một “cú sốc” địa chính trị lan tỏa toàn cầu qua cả 3 kênh: năng lượng, logistics và tài chính.
Cụ thể về giá năng lượng, ông cho biết Trung Đông đang chiếm tỉ trọng lớn trong cung ứng dầu mỏ và khí đốt toàn cầu. Khi xung đột leo thang, rủi ro gián đoạn nguồn cung và tâm lý đầu cơ khiến giá dầu biến động mạnh.
Với Việt Nam, nền kinh tế có độ mở lớn và phụ thuộc đáng kể vào nhập khẩu xăng dầu đầu vào chi phí sản xuất, vận tải, bảo hiểm hàng hóa đều tăng. Doanh nghiệp xuất nhập khẩu chịu tác động kép, đó là giá thành tăng nhưng khả năng điều chỉnh giá bán hạn chế do hợp đồng đã ký cố định.

Về chuỗi cung ứng và logistics, các tuyến hàng hải qua eo biển Hormuz hay Biển Đỏ có thể bị ảnh hưởng gián tiếp bởi căng thẳng quân sự.
Về chuỗi cung ứng và logistics, các tuyến hàng hải qua eo biển Hormuz hay Biển Đỏ có thể bị ảnh hưởng gián tiếp bởi căng thẳng quân sự. Khi rủi ro an ninh tăng, phí bảo hiểm tàu biển, thời gian vận chuyển và chi phí container đều tăng. Điều này tác động trực tiếp đến doanh nghiệp xuất khẩu dệt may, da giày, nông sản, những ngành phụ thuộc lớn vào chi phí logistics.
Nói về tài chính, tỉ giá và thanh toán quốc tế, ông Quốc Anh cho biết xung đột làm gia tăng tâm lý phòng thủ trên thị trường tài chính toàn cầu, đẩy dòng tiền về các tài sản an toàn. Điều này có thể khiến USD mạnh lên, tạo áp lực tỉ giá với các nền kinh tế mới nổi. Doanh nghiệp nhập khẩu chịu rủi ro tỉ giá, trong khi doanh nghiệp xuất khẩu lại đối mặt nguy cơ thu hẹp cầu tiêu dùng tại các thị trường bị ảnh hưởng.
Ở góc độ lý luận chính trị, kinh tế, đây là minh chứng cho tính chất “liên thông cấu trúc” của kinh tế toàn cầu: Xung đột quân sự khu vực có thể chuyển hóa thành rủi ro kinh tế vĩ mô xuyên biên giới. Với Việt Nam, nền kinh tế định hướng xuất khẩu và hội nhập sâu, mọi cú sốc địa chính trị đều truyền dẫn nhanh chóng vào khu vực doanh nghiệp.
Không chỉ "sống sót" mà còn mở rộng thị phần
Về những khuyến nghị đối với doanh nghiệp đang làm ăn với khu vực Trung Đông, TS.Mạc Quốc Anh cho rằng: “Để có thể chủ động quản trị rủi ro địa chính trị, các doanh nghiệp cần rà soát lại hợp đồng, điều khoản thanh toán, bảo hiểm và điều kiện giao hàng (Incoterms); đa dạng hóa đối tác, tránh phụ thuộc quá mức vào một thị trường hoặc một tuyến vận tải”.
Theo đó, doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần cân nhắc các công cụ phòng ngừa rủi ro tỉ giá (hedging), đàm phán lại điều khoản giá linh hoạt theo biến động chi phí nhiên liệu và vận tải.
Về tái cấu trúc thị trường, Trung Đông vẫn là thị trường tiềm năng lớn về lương thực, thực phẩm halal (các loại thực phẩm, đồ uống được cho phép tiêu thụ theo luật Hồi giáo), vật liệu xây dựng và hàng tiêu dùng. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần phân tán rủi ro sang các thị trường khác như Nam Á, châu Phi hoặc ASEAN để bảo đảm an toàn dòng tiền.

TS. Mạc Quốc Anh - Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Tp.Hà Nội (Hanoisme).
Về phía Nhà nước, ông cũng kiến nghị cần điều hành linh hoạt chính sách tiền tệ và tỉ giá, ổn định tâm lý thị trường, tránh biến động đột ngột; cập nhật sớm cảnh báo thương mại và an ninh vận tải cho doanh nghiệp thông qua hệ thống thương vụ và đại sứ quán.
Đặc biệt, cần phải hỗ trợ tín dụng và bảo hiểm xuất khẩu, đặc biệt với doanh nghiệp nhỏ và vừa; tăng cường đàm phán thương mại song phương và đa phương, bảo đảm hành lang pháp lý an toàn cho thanh toán và vận chuyển.
“Về mặt thực tiễn, trong mọi cuộc khủng hoảng địa chính trị, những doanh nghiệp có năng lực quản trị rủi ro tốt, dự trữ tài chính lành mạnh và chiến lược thị trường linh hoạt thường không chỉ “sống sót” mà còn mở rộng được thị phần khi đối thủ yếu đi. Thách thức hiện nay không chỉ là biến động giá dầu hay vận tải, mà là năng lực thích ứng chiến lược của doanh nghiệp Việt Nam trong một trật tự kinh tế thế giới ngày càng bất định”, TS. Mạc Quốc Anh nói.
Trước diễn biến phức tạp tại khu vực Trung Đông, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cũng đã đưa ra một số khuyến nghị cụ thể nhằm giúp doanh nghiệp chủ động ứng phó và giảm thiểu rủi ro.
Cụ thể, đa dạng nguồn cung ứng hàng hóa cũng như tìm kiếm các thị trường khác có nguồn cầu tương tự để lựa chọn phương án thay thế, giảm thiểu ảnh hưởng khi hoạt động xuất khẩu hàng hóa sang Israel, Iran và khu vực Trung Đông gặp khó khăn, lâu dài có phương án chủ động ứng phó với sự cố tương tự trong tương lai.
Khi đàm phán, ký kết các hợp đồng mua bán cần quan tâm và chú trọng tới hợp đồng (hoặc điều khoản) về logistics, vận chuyển, giao hàng và bảo hiểm nhằm bảo vệ doanh nghiệp trước rủi ro và tổn thất khi có sự cố, đảm bảo rằng các hợp đồng vận chuyển có điều khoản về tình huống bất khả kháng, bồi thường và phân chia chi phí khi hàng hóa gặp rủi ro.
Đồng thời, cần mua bảo hiểm đầy đủ cho hàng hóa để phòng ngừa rủi ro và giảm tổn thất khi phát sinh sự cố tại thị trường nhập khẩu.
Thường xuyên, chủ động phân tích, phối hợp trao đổi thông tin với các Bộ, ngành có liên quan về số liệu xuất nhập khẩu hàng hóa; tình hình biến động địa chính trị có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu và vận tải của doanh nghiệp Việt Nam; tình hình vận tải hàng hóa, giá cước, chi phí, phụ phí... nhằm kịp thời thống nhất phương án ứng phó đối với các tình huống tương tự trong tương lai.
Cùng với đó, chủ động xây dựng kế hoạch phòng ngừa, thích ứng để giảm thiểu nguy cơ, rủi ro, tổn thất từ các sự cố trong thương mại, vận chuyển quốc tế và các vấn đề liên quan, chuẩn bị phương án phản ứng kịp thời để hạn chế ảnh hưởng đối với chuỗi cung ứng.
Cục Xuất nhập khẩu cũng cho biết cần tìm kiếm những đơn hàng mới, thị trường mới có tiềm năng, từ đó có phương án thay thế hoặc ưu tiên khai thác, tận dụng tối đa các cơ hội.
Link nội dung: https://nhiepanhvacuocsong.net/cu-soc-3-tang-tu-trung-dong-va-bai-toan-thich-ung-cua-doanh-nghiep-viet-a60799.html