Tăng trưởng 2 con số: Không thể chỉ trông vào tín dụng

Mục tiêu tăng trưởng 2 con số đặt ra nhu cầu vốn khoảng 38,5 triệu tỷ đồng giai đoạn 2026-2030, buộc Việt Nam phải mở rộng các kênh chứng khoán, trái phiếu nhằm giảm áp lực lên tín dụng.

Ngày 2/4/2026, Kết luận số 18 của của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV được ban hành và đặt mục tiêu phấn đấu tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn 2026-2030. Để cụ thể hóa mục tiêu này, Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng năm 2026 từ 10% trở lên, đồng thời phân giao nhiệm vụ tới từng bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp nhà nước. Khi mục tiêu tăng trưởng được giao cụ thể, nhu cầu về nguồn lực, đặc biệt là vốn cho đầu tư, sản xuất và mở rộng năng lực cung ứng, cũng trở nên rõ nét hơn.

Đến cuối tháng 6/2026, huy động vốn thấp hơn dư nợ tín dụng khoảng 2,7 triệu tỷ đồng, tương đương 13,4% tổng dư nợ tín dụng; lượng tiền mặt trong lưu thông ở mức khoảng 2,1 triệu tỷ đồng. Những con số này cho thấy bài toán vốn không chỉ nằm ở quy mô nguồn tiền, mà còn ở khả năng luân chuyển và phân bổ nguồn lực.

Tăng trưởng 2 con số: Không thể chỉ trông vào tín dụng - Ảnh 1.

Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng năm 2026 từ 10% trở lên (Ảnh: Hữu Thắng).

Trong lĩnh vực ngân hàng, một số chính sách đã được điều chỉnh theo hướng tạo thêm dư địa tín dụng. Thông tư số 25/2026 nâng tỉ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%. Tiếp đó, Quyết định số 1743 nâng tỉ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước được tính vào tổng tiền gửi khi xác định tỉ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi lên 50%, áp dụng từ ngày 1/8/2026 đến ngày 31/7/2028.

Cùng với đó, từ tháng 8, nhiều ngân hàng đã triển khai các chương trình giảm lãi suất cho vay theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước, với mức ưu đãi khoảng 0,5-2,5 điểm %/năm. Dòng vốn được định hướng vào nhóm khách hàng như doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, doanh nghiệp xuất nhập khẩu và các lĩnh vực ưu tiên.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, những giải pháp trên chỉ tạo thêm dư địa cho một kênh vốn, trong khi mục tiêu tăng trưởng cao trong nhiều năm đòi hỏi phải tái cân bằng cấu trúc thị trường tài chính, phát triển mạnh hơn các kênh vốn trung và dài hạn.

Nhu cầu vốn lên tới 38,5 triệu tỷ đồng

Ở góc độ vĩ mô, TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách Tài chính - Tiền tệ Quốc gia cho rằng, mục tiêu tăng trưởng cao của Việt Nam đòi hỏi một lượng vốn rất lớn, trong khi kênh tín dụng ngân hàng đã gần tới hạn về tỉ lệ đòn bẩy.

Theo ông, trong giai đoạn tăng trưởng trên 10%, tỉ lệ vốn đầu tư toàn xã hội/GDP của nhiều quốc gia thường dao động quanh mức 39-43%. Vốn, bao gồm tiền, công nghệ, máy móc, trang thiết bị và một phần nguồn nhân lực, thường đóng góp từ 45% đến trên 50% vào tăng trưởng kinh tế.

Để đạt mức tăng trưởng GDP bình quân khoảng 10% đến năm 2030 và khoảng 8% trong giai đoạn 2031-2045, tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 dự kiến cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng. Trong đó, vốn nhà nước khoảng 8,5 triệu tỷ đồng, vốn đầu tư nước ngoài khoảng 4,8 triệu tỷ đồng, còn khu vực tư nhân trong và ngoài nước phải đóng góp khoảng 25,5 triệu tỷ đồng, tương đương 65% tổng nhu cầu vốn.

“Vốn tư nhân phải đóng góp gần 2/3 nhu cầu đầu tư”, TS. Cấn Văn Lực cho biết, đồng thời nhấn mạnh bài toán không chỉ là huy động thêm vốn mà còn phải mở rộng và nâng cao hiệu quả các kênh dẫn vốn.

Tăng trưởng 2 con số: Không thể chỉ trông vào tín dụng - Ảnh 2.

TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách Tài chính - Tiền tệ Quốc gia.

Hiện tín dụng ngân hàng vẫn đang “gánh” khoảng 50% tổng lượng vốn cung ứng cho nền kinh tế. Trong khi đó, vốn từ thị trường cổ phiếu mới đóng góp khoảng 6,4% tổng lượng vốn xã hội; thị trường trái phiếu doanh nghiệp khoảng 7%; đầu tư công chiếm 12-15%; vốn FDI khoảng 12%; phần còn lại là vốn tự có của doanh nghiệp, chiếm hơn 10%.

“Ở Việt Nam, thị trường vốn (cổ phiếu, trái phiếu và các quỹ đầu tư) mới chỉ chiếm khoảng 15-17%. Chúng tôi đã nhiều lần kiến nghị với Chính phủ cần nâng tỉ trọng này lên ít nhất 25-27% thì hệ thống tài chính mới thực sự cân bằng và bền vững”, TS. Cấn Văn Lực nhấn mạnh.

Theo chuyên gia, mỗi kênh vốn hiện đều có giới hạn nhất định. Tín dụng ngân hàng đã gần tới hạn về tỉ lệ đòn bẩy; trong khi thị trường cổ phiếu, trái phiếu và các quỹ đầu tư còn nhiều dư địa nhưng chưa phát triển tương xứng. Đầu tư công vẫn còn khả năng mở rộng, song hiệu quả sử dụng vốn cần được cải thiện khi quy mô đầu tư ngày càng lớn.

Chứng khoán, trái phiếu phải trở thành kênh vốn dài hạn

Ở góc độ thị trường vốn, ông Nguyễn Thế Minh - Giám đốc Khối Ngân hàng Đầu tư (kiêm Phó Giám đốc Khối Kinh doanh), CTCP Chứng khoán An Bình cho rằng, thị trường vốn chính là điểm cân bằng giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa.

Theo ông Minh, chính sách tiền tệ tác động tới mặt bằng lãi suất và định giá tài sản tài chính; trong khi chính sách tài khóa thông qua đầu tư công, chi tiêu ngân sách hay các chính sách ưu đãi sẽ thúc đẩy dòng vốn và nhu cầu đầu tư. Thị trường cổ phiếu và trái phiếu đóng vai trò cung ứng vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.

Tuy nhiên, cơ cấu vốn của doanh nghiệp Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng. Bên cạnh đó là vốn chủ sở hữu, nhưng phần lớn vốn tự có vẫn do chính chủ doanh nghiệp đóng góp, thay vì được huy động rộng rãi từ thị trường. Điều này cho thấy doanh nghiệp chưa khai thác hiệu quả chức năng huy động vốn của thị trường chứng khoán.

Tăng trưởng 2 con số: Không thể chỉ trông vào tín dụng - Ảnh 3.

Ông Nguyễn Thế Minh - Giám đốc Khối Ngân hàng Đầu tư (kiêm Phó Giám đốc Khối Kinh doanh), CTCP Chứng khoán An Bình (Ảnh: Hộp Tài sản).

Theo ông Minh, để thị trường vốn trở thành kênh dẫn vốn hiệu quả hơn, trước hết cần nâng cao chất lượng hàng hóa trên thị trường. Chất lượng doanh nghiệp niêm yết và doanh nghiệp phát hành, nền tảng tài chính, quản trị minh bạch và triển vọng tăng trưởng là những yếu tố quyết định niềm tin của nhà đầu tư và sự phát triển bền vững của thị trường vốn.

Cùng với đó, tính minh bạch cần được duy trì và nâng cao liên tục. Theo ông Minh, thị trường vốn cung cấp nguồn vốn dài hạn nên nhà đầu tư cũng cần có niềm tin dài hạn, mà nền tảng của niềm tin chính là sự minh bạch.

Một yêu cầu khác là giảm các rào cản kỹ thuật trong huy động vốn và tiệm cận các thông lệ quốc tế. Ông Minh cho rằng cơ chế non-prefunding (giao dịch không yêu cầu có đủ 100% tiền trước khi đặt lệnh) sẽ tạo thuận lợi hơn cho nhà đầu tư nước ngoài. Đồng thời, cần phát triển mạnh ngành quản lý quỹ, đặc biệt là các quỹ mở và quỹ ETF, những công cụ có khả năng thu hút dòng vốn dài hạn và ổn định hơn so với dòng vốn đầu tư cá nhân.

Tái cân bằng để mở thêm dư địa tăng trưởng

Để tái cân bằng cấu trúc thị trường tài chính, TS. Cấn Văn Lực đề xuất 5 nhóm giải pháp, trong đó ưu tiên hoàn thiện thể chế tài chính, xây dựng khung pháp lý cho các mô hình kinh doanh mới và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox), nhằm đón đầu xu hướng mã hóa tài sản và tài chính số.

Theo chuyên gia, thị trường vốn cũng cần được phát triển theo hướng cân bằng hơn, giảm sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng thông qua đa dạng hóa các định chế tài chính. Các quỹ mở, quỹ đóng, quỹ đầu tư bất động sản (REITs) và quỹ đầu tư mạo hiểm hiện còn khá sơ khai tại Việt Nam và cần được thúc đẩy mạnh hơn.

Bên cạnh đó, cần nâng cao năng lực quản trị, giám sát hệ thống tài chính; xây dựng hạ tầng dữ liệu minh bạch, chuẩn hóa; đồng thời giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát. Theo TS. Cấn Văn Lực, đây là điều kiện quan trọng để củng cố niềm tin, khuyến khích chuyển hóa nguồn tiền nhàn rỗi, vàng và ngoại tệ vào hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh.

Tăng trưởng 2 con số: Không thể chỉ trông vào tín dụng - Ảnh 4.

Thị trường vốn cần được phát triển theo hướng cân bằng hơn.

Đáng chú ý, chuyên gia kiến nghị xây dựng một chương trình tổng thể về cải cách và phát triển thị trường tài chính, thống nhất các chiến lược đối với ngân hàng, chứng khoán, trái phiếu, bảo hiểm, tài chính số và tài chính xanh. Đồng thời, cần đa dạng hóa các định chế tài chính như quỹ hưu trí, quỹ đầu tư dài hạn, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ tín thác bất động sản và các tổ chức tài chính phi ngân hàng; phát triển thị trường phái sinh, tài chính xanh, tài chính số, thị trường carbon và tài sản mã hóa theo lộ trình phù hợp.

Gỡ điểm nghẽn để kinh tế số hướng tới mục tiêu chiếm 30% GDPGỡ điểm nghẽn để công nghiệp văn hóa thành ngành kinh tế

Theo TS. Cấn Văn Lực, thị trường tài chính cần được xây dựng trên ba nền tảng là thể chế đáng tin cậy, thông tin và dữ liệu minh bạch, kỷ luật thị trường nghiêm minh. Cùng với đó là hoàn thiện cơ chế phá sản, xử lý nợ, xử lý các tổ chức tài chính yếu kém; xây dựng cơ sở dữ liệu tài chính quốc gia và hệ thống cảnh báo sớm; chuyển từ tiền kiểm hành chính sang quản lý, giám sát dựa trên rủi ro, công nghệ và dữ liệu.

Bài toán vốn cho tăng trưởng 2 con số, vì vậy, không đơn thuần là mở rộng tín dụng hay hạ chi phí vay. Với nhu cầu vốn dự kiến lên tới 38,5 triệu tỷ đồng trong giai đoạn 2026-2030 và khu vực tư nhân phải đóng góp khoảng 65%, việc đa dạng hóa các kênh huy động, phát triển thị trường vốn và nâng hiệu quả phân bổ nguồn lực sẽ quyết định khả năng tạo thêm dư địa cho tăng trưởng trong những năm tới.

Link nội dung: https://nhiepanhvacuocsong.net/tang-truong-2-con-so-khong-the-chi-trong-vao-tin-dung-a95057.html