Thiếu vật liệu xây dựng đang "trói chân" tiến độ công trình APEC tại Phú Quốc

Trong quá trình chuẩn bị hạ tầng trọng điểm phục vụ APEC 2027, Phú Quốc đang đối mặt với một điểm nghẽn lớn về nguồn cung vật liệu xây dựng. Nhu cầu tăng cao trong khi công suất khai thác mỏ đá bị hạn chế, thủ tục điều chỉnh chậm đã và đang tạo áp lực không nhỏ lên tiến độ các công trình trọng điểm, đặt ra yêu cầu phải sớm có giải pháp tháo gỡ mang tính quyết liệt và đồng bộ.

Vật liệu xây dựng cung không theo đủ cầu

APEC 2027 được xác định là sự kiện đối ngoại đặc biệt quan trọng của Việt Nam, đồng thời là cơ hội hiếm có để Phú Quốc bứt phá mạnh mẽ về hạ tầng, du lịch và kinh tế dịch vụ. Cùng với hạ tầng tỷ đô đang được đầu tư, nhiều chuyên gia nhận định, APEC sẽ tạo cú huých lớn cho du lịch MICE, thúc đẩy phát triển đô thị và BĐS, qua đó nâng tầm vị thế của Phú Quốc.

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai các dự án APEC 2027, một điểm nghẽn lớn xuất hiện, đó là tình trạng thiếu hụt vật liệu xây dựng, đặc biệt là cấp phối đá dăm: loại vật liệu nền tảng cho các công trình hạ tầng kỹ thuật quy mô lớn.

Theo các báo cáo của đơn vị thi công, tổng nhu cầu vật liệu xây dựng cho các dự án APEC tại Phú Quốc trong năm 2026 ước khoảng 2,67 triệu mét khối. Khối lượng này tập trung chủ yếu cho các hạng mục then chốt như dự án đầu tư Mở rộng Cảng Hàng không Quốc tế Phú Quốc, Đại lộ APEC, Trung tâm Hội nghị và Triển lãm APEC, đường ĐT975, các khu tái định cư và nhiều hạng mục hạ tầng đồng bộ khác. Riêng cấp phối đá dăm chiếm tỷ trọng lớn, đóng vai trò quyết định đến tiến độ thi công phần nền móng và kết cấu hạ tầng.

Thiếu vật liệu xây dựng đang "trói chân" tiến độ công trình APEC tại Phú Quốc - Ảnh 1.

Tổng nhu cầu vật liệu xây dựng cho các dự án APEC tại Phú Quốc trong năm 2026 ước khoảng 2,67 triệu mét khối.

Thực tế triển khai cho thấy, khối lượng vật liệu đã được đưa về công trường trong 4 tháng qua mới đạt khoảng 169.000 mét khối, chỉ đạt 7% tổng khối lượng cần cho năm 2026. Trong khi đó, mùa khô từ tháng 1 đến tháng 5 được xem là giai đoạn thi công cao điểm, đòi hỏi sản lượng trung bình lên tới khoảng 360.000 mét khối mỗi tháng. Khoảng cách quá lớn giữa nhu cầu và khả năng đáp ứng đang tạo ra áp lực rất lớn cho tiến độ thi công của các nhà thầu và chủ đầu tư.

Nguyên nhân nằm ở công suất khai thác mỏ đá, khâu được xem là "nút thắt" then chốt trong chuỗi cung ứng vật liệu xây dựng cho Phú Quốc. Hiện nguồn đá phục vụ các công trình trên đảo chủ yếu đến từ các mỏ Hòn Sóc và Trà Đuốc, tỉnh An Giang. Tuy nhiên, năng lực khai thác các mỏ này chỉ đạt khoảng 2.000–3.000 mét khối mỗi ngày, trong khi cùng lúc phải cung cấp cho nhiều dự án.

Bên cạnh đó, trữ lượng khai thác được cấp phép hiện nay tại mỗi mỏ chỉ khoảng 1 triệu mét khối, tương đương 1,5 đến 2 năm khai thác. Với quy mô nhu cầu vật liệu rất lớn của các dự án APEC, mức trữ lượng này không còn nhiều dư địa để tăng tốc, nếu không có sự điều chỉnh kịp thời về cơ chế và thủ tục.

Cần đưa cơ chế đặc thù vào thực tế

Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký, Trưởng Ban Pháp chế VCCI, cho rằng đầu tư công đang chuyển sang giai đoạn yêu cầu tốc độ và quy mô rất cao, nhưng thể chế liên quan đến đất đai, khoáng sản, xây dựng vẫn chưa theo kịp.

Theo ông Tuấn, năm 2025 ghi nhận khối lượng sửa đổi pháp luật lớn, với hàng chục luật và hàng trăm nghị định được ban hành. Tuy nhiên, trong thực tiễn triển khai, vẫn còn tình trạng các luật chưa “ăn khớp” với nhau, khiến dự án đầu tư công bị ách tắc ở những khâu ngoài phạm vi của chủ đầu tư hoặc nhà thầu .

Cơ chế đặc thù cho phép nâng trữ lượng và công suất khai thác khoáng sản đã được Chính phủ quy định tại Nghị quyết 66.4. Tuy nhiên, việc triển khai cơ chế này tại địa phương đến nay chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn. Một số nội dung liên quan đến điều chỉnh trữ lượng, công suất khai thác và cấp phép mới hiện vẫn đang trong quá trình rà soát, hoàn thiện thủ tục, khiến nguồn cung vật liệu chưa thể gia tăng trong ngắn hạn.

Trong khi đó, các dự án phục vụ APEC đều mang tính chất khẩn trương, các công trình chỉ còn 8-18 tháng để hoàn thiện theo kế hoạch số 61 của UBND tỉnh An Giang về tổ chức triển khai thực hiện các dự án phục vụ Hội nghị APEC 2027. Việc thủ tục chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn đang tạo ra khoảng trống lớn giữa quyết tâm chính trị và khả năng triển khai trên công trường.

Từ thực tế này, các văn bản kiến nghị của nhà đầu tư và đơn vị thi công đều nhấn mạnh sự cần thiết phải sớm tháo gỡ điểm nghẽn công suất mỏ đá. Trọng tâm được đặt vào việc khẩn trương áp dụng cơ chế đặc thù, cho phép nâng trữ lượng và tăng công suất khai thác tại các mỏ hiện hữu; đồng thời xem xét cấp phép khai thác mới cho các doanh nghiệp đủ năng lực, đặc biệt là những đơn vị trực tiếp tham gia thi công các công trình APEC, nhằm chủ động nguồn cung vật liệu.

Song song với đó, nhiều kiến nghị cũng đề cập đến việc cần có chỉ đạo thống nhất trong ưu tiên phân bổ sản lượng khai thác cho các dự án APEC, bảo đảm tỷ lệ lớn sản lượng phục vụ cho các công trình trọng điểm quốc gia. Việc tìm kiếm, bổ sung thêm các mỏ đá mới trên địa bàn tỉnh An Giang cũng được xem là giải pháp trung và dài hạn nhằm đa dạng hóa nguồn cung, giảm áp lực cho các mỏ hiện hữu.

Thiếu vật liệu xây dựng đang "trói chân" tiến độ công trình APEC tại Phú Quốc - Ảnh 2.

Nhiều kiến nghị cũng đề cập đến việc cần có chỉ đạo thống nhất trong ưu tiên phân bổ sản lượng khai thác cho các dự án APEC, bảo đảm tỷ lệ lớn sản lượng phục vụ cho các công trình trọng điểm quốc gia.

Theo đơn vị thi công, cần áp dụng cơ chế đặc thù theo Nghị quyết 66.4/2025 của Quốc hội để nâng trữ lượng và công suất khai thác tại các mỏ hiện hữu (Hòn Sóc, Trà Đuốc), hoàn tất thủ tục trong tháng 1/2026. Ưu tiên phân bổ 80-90% sản lượng cho APEC, chỉ đạo các đơn vị như Công ty Xây dựng Kiên Giang, An Phát, Quý Hải cam kết cung cấp tối thiểu 70.000 m³/tháng/mỏ.

Thứ hai, cấp phép khai thác mới cho các đơn vị tại mỏ Hòn Sóc, và tìm thêm mỏ mới như Cô Tô (huyện Tri Tôn, An Giang). Tìm nguồn thay thế từ các tỉnh lân cận như Bình Dương, Vũng Tàu, dù chi phí vận chuyển cao hơn (7-10 ngày/chuyến so với 2-3 ngày từ An Giang).

Ngoài ra, do hạ tầng cảng, luồng lạch hiện nay còn hạn chế, chủ yếu tiếp nhận tàu nhỏ, khiến thời gian và chi phí vận chuyển tăng cao. Việc sớm đầu tư nạo vét, nâng cấp luồng lạch và công suất cảng được xem là yếu tố quan trọng để bảo đảm chuỗi cung ứng vật liệu vận hành thông suốt.

Bài toán thiếu vật liệu không mới, từng xảy ra ở cao tốc Bắc - Nam hay sân bay Long Thành và nhiều công trình trọng điểm khác. Bàn về vấn đề thiếu vật liệu xây dựng, ông Nguyễn Thế Minh, Phó Cục trưởng Cục kinh tế - quản lý đầu tư xây dựng Bộ Xây dựng cũng từng thừa nhận pháp luật dù đã sửa đổi rất nhiều để tiệm cận thực tế, nhưng vấn đề cốt lõi hiện nay vẫn nằm ở khâu tổ chức thực hiện và yếu tố con người tại các địa phương.

Thứ nhất, hiện nay vẫn còn nặng tư duy “cục bộ địa phương” trong quản lý tài nguyên. Tài nguyên khoáng sản tuy là tài sản quốc gia nhưng lại được quản lý theo địa giới hành chính, dẫn đến tình trạng địa phương nào có mỏ thì giữ lại cho địa phương đó, khiến các tỉnh không có mỏ gặp rất nhiều khó khăn.

Do đó, ông kiến nghị cần có một sự chỉ đạo xuyên suốt để biến tài nguyên khoáng sản đúng nghĩa thành nguồn lực quốc gia, nơi các địa phương có mỏ phải chia sẻ và hỗ trợ cho những vùng thiếu hụt nguồn cung.

Về năng lực khai thác, ông Nguyễn Thế Minh kêu gọi các địa phương cần dũng cảm nâng công suất cho các mỏ đá có trữ lượng lớn. Việc cấp phép khai thác nhỏ giọt và chia đều trữ lượng cho hàng chục năm như trước đây không còn phù hợp với yêu cầu cấp bách của các dự án hạ tầng hiện nay. Ông khẳng định, vấn đề môi trường có thể kiểm soát được thông qua việc phục hồi sau khai thác, nên không cần quá lo ngại khi nâng công suất để đáp ứng nhu cầu thị trường. Đồng thời, cần mở rộng các cơ chế giao mỏ trực tiếp cho nhà thầu lẫn cơ chế đấu giá công khai để đảm bảo tính minh bạch và sự đa dạng của nguồn cung vật liệu.