Thông tin tại Hội nghị Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 – 2030, ông Phạm Đức Ấn - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết đến ngày 28/8/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 20,5 triệu tỷ đồng, tăng 10,24% so với cuối năm 2025.
Cơ cấu tín dụng tiếp tục tập trung vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng theo chủ trương của Chính phủ với khoảng 77,3% dư nợ phục vụ lĩnh vực sản xuất, kinh doanh. Ngành Ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, khai thác và kết nối dữ liệu, ứng dụng công nghệ và AI có trách nhiệm để giảm chi phí, nâng cao chất lượng thẩm định, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ, đi đôi với bảo đảm an ninh, an toàn và bảo vệ dữ liệu khách hàng.

Thống đốc Phạm Đức Ấn phát biểu chỉ đạo Hội nghị. (Ảnh: SBV)
Thống đốc Phạm Đức Ấn cho biết, là Ngành có vai trò quan trọng trong ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, trong 8 tháng đầu năm 2026, bám sát chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, NHNN đã nỗ lực triển khai quyết liệt, đồng bộ nhiều giải pháp đảm bảo ổn định thị trường tiền tệ, vừa góp phần quan trọng ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế 2 con số.
Trong đó, NHNN đã thực hiện các giải pháp nhằm ổn định mặt bằng lãi suất, giảm lãi suất cho vay và tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng tăng trưởng tín dụng hiệu quả, hướng tín dụng vào phục vụ các động lực tăng trưởng kinh tế; tập trung tháo gỡ kịp thời các khó khăn, vướng mắc cho các TCTD và các doanh nghiệp trong việc đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là các dự án trọng điểm quốc gia.
Thống đốc cũng cho rằng, tín dụng ngân hàng là nguồn lực rất quan trọng, nhưng không thể và không nên là nguồn vốn duy nhất cho mọi nhu cầu phát triển. Với các dự án quy mô lớn, vòng đời dài, cần cơ cấu phù hợp giữa vốn chủ sở hữu, tín dụng ngân hàng, đầu tư công, PPP, thị trường vốn, ODA và các nguồn lực hợp pháp khác để tăng tính bền vững của dự án và giảm áp lực kỳ hạn lên hệ thống ngân hàng. Khả năng giải ngân cũng không chỉ phụ thuộc vào phía ngân hàng.
Với các dự án lớn, hồ sơ pháp lý, quy hoạch, thủ tục đầu tư, đất đai, giải phóng mặt bằng, tiến độ và phương án tài chính là những điều kiện quyết định. Với doanh nghiệp, năng lực quản trị, minh bạch tài chính, vốn chủ sở hữu và chất lượng dòng tiền ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận tín dụng. Vì vậy, khơi thông vốn đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan quản lý, chính quyền địa phương, ngân hàng và doanh nghiệp.